Bản rút gọn này giới thiệu các nội dung cốt lõi của bộ luật thi đấu hiện hành. Do CĐS vẫn đang trong quá trình nghiên cứu, thử nghiệm và nâng cấp, đây là phiên bản luật tạm thời được áp dụng chính thức kể từ Giải đấu CĐS lần II – Cúp Hùng Vương (18/04/2026, tại Thư viện KHTH TP.HCM)
1. Định mức thời gian
1.1 Điều lệ mỗi một giải đấu do đơn vị tổ chức ban hành và công bố trước khi tiến hành để đảm bảo phù hợp với tình hình thực tế:
• Quy định rõ ràng các hình thức thi đấu;
• Hướng dẫn chi tiết cách tính thời gian của ván đấu;
• Thông báo các quy định trước giờ thi đấu.
1.2 Một số cách tính thời gian thường được sử dụng như sau:
• Cờ tiêu chuẩn: Mỗi bên có 90 phút, cộng 30 giây cho mỗi nước đi;
• Cờ nhanh: Mỗi bên có 15 phút, cộng 10 giây cho mỗi nước đi;
• Cờ chớp: Mỗi bên có 5 phút, cộng 2 giây cho mỗi nước đi.
2. Chạm quân
2.1 Quy định chung khi đấu thủ chạm tay vào quân cờ trong ván đấu:
• Mỗi nước đi chỉ được thực hiện bằng một tay kể cả trường hợp Hoán quân, ăn quân hay Phong cấp;
• Chỉ có đấu thủ đang đến lượt đi mới được quyền sửa lại vị trí của một hay nhiều quân trên bàn cờ với điều kiện phải thông báo trước ý định “Tôi sửa quân” (hoặc câu có hàm ý tương tự) và sửa lại cho đúng trong thời gian của chính mình;
• Các trường hợp chạm quân khác đều được coi là cố tình, kể cả vô ý rơi quân vào ô bất kỳ trên bàn cờ được tính là một lỗi kỹ thuật, trừ khi điều lệ giải có quy định khác.
2.2 Trường hợp chạm mỗi bên một hoặc nhiều quân
• Đấu thủ phải ăn quân đã chạm đầu tiên của đối phương bằng quân đã chạm đầu tiên của mình;
• Nếu không thể xác định được quân của bên nào bị chạm đầu tiên thì quân của đấu thủ đó xem như đã bị chạm trước quân của đối phương;
• Nếu quân mình đã chạm không bắt được quân đối phương bị chạm thì phải dùng quân khác bắt quân bị chạm đó. Nếu không có quân nào bắt được quân của đối phương, thì phải đi quân mình đã chạm;
• Trường hợp không có quân nào bắt được quân đó và quân đã chạm cũng không thể thực hiện nước đi hợp lệ thì được đi nước khác nhưng tính như một lỗi kỹ thuật.
2.3 Trường hợp chạm tay vào quân Thần hoặc Voi.
• Chạm vào quân Thần và một quân Voi của mình thì phải Hoán quân về phía Voi đó nếu nước đi hợp lệ;
• Cố tình chạm vào quân Voi trước quân Thần thì không được phép Hoán quân về phía Voi đó ở nước đi này;
• Dự định Hoán quân, chạm vào quân Thần trước rồi đến Voi, nhưng nếu Hoán quân với Voi đó không hợp lệ thì phải thực hiện một nước đi hợp lệ khác với quân Thần (gồm cả việc Hoán quân với Voi còn lại). Nếu Thần không có nước đi hợp lệ, thì đấu thủ được quyền thực hiện bất kì nước đi nào khác đúng luật, thao tác không hợp lệ xem như một lỗi kỹ thuật.
2.4 Tiến hành Phong cấp cho quân Bộ hoặc Đinh
• Việc chọn lựa quân cờ nào để phong cấp sẽ kết thúc ngay khi quân đó chạm vào ô Phong cấp, sau đó quân Bộ hoặc Đinh đã thực hiện phong cấp phải được đưa ra khỏi bàn cờ ngay lập tức. Quân Bộ hoặc Đinh không cần phải đặt vào ô Phong cấp;
• Việc bỏ quân Bộ hoặc quân Đinh ra và đặt quân cờ mới vào ô phong cấp có thể được thực hiện theo bất cứ trình tự nào;
• Nếu Bộ hoặc Đinh đến hàng ngang xa nhất bằng cách di chuyển hoặc ăn quân nhưng không thay bằng một quân cờ mới thì nước đi này bị xem là không hợp lệ. Quân được phong cấp đó sẽ phải được thay bằng quân Ngựa cùng màu ngay lập tức.
2.5 Trọng tài can thiệp/ phân xử việc chạm quân khi đấu thủ đề nghị:
• Một đấu thủ sẽ mất quyền khiếu nại đối phương hoặc đề nghị hòa khi đấu thủ đó đã chạm vào quân cờ với ý định đi quân hoặc bắt quân;
• Nếu có chạm quân xảy ra nhưng không bên nào đề nghị thì ván đấu vẫn diễn ra bình thường;
• Việc chạm quân phải được đối thủ công nhận hoặc trọng tài chứng kiến, nếu không thì trọng tài có quyền không xét phạt đối phương;
• Ngoài đối phương và trọng tài xác nhận, thì bất cứ người nào khác (huấn luyện viên, khán giả…) can thiệp cũng không có giá trị.
3. Kết quả ván cờ
3.1 Quy ước bảng xếp hạng và sắp xếp ván đấu
• Tổng số điểm của một ván đấu không được vượt quá số điểm tối đa bình thường được quy định. Điểm cho một kỳ thủ phải là điểm số thông thường cho một ván đấu.
• Nếu tổng số đấu thủ tham gia là số lẻ và điều lệ giải không có quy định khác, thì những đấu thủ nhỏ tuổi được ưu tiên miễn đấu theo từng vòng, mỗi vòng chỉ có 01 người được miễn đấu, mỗi người chỉ được miễn đấu 01 lần, ván miễn đấu được ghi kết quả 2⁰-0 (không cộng điểm hệ số phụ).
• Thứ hạng được tính dựa vào điểm số và các thông số phụ của đấu thủ được cộng dồn qua nhiều ván đấu.
• Các đấu thủ trong cùng một bảng đấu sẽ có thể gặp nhau duy nhất chỉ một lần. Trong một cặp đấu, người có số trận cầm quân Sơn nhiều hơn hoặc người nhỏ tuổi hơn sẽ được ưu tiên đi quân Thuỷ. Cặp đấu được sắp xếp theo trình tự:
-
- Vòng 1: Độ tuổi
- Vòng 2: Bắt cặp giữa những người thắng và bắt cặp giữa những người thua vòng trước.
- Từ Vòng 3: Bắt cặp giữa những người có điểm gần tương đương và chưa gặp nhau trước đó.
3.2 Điểm số
• Giá trị của từng quân cờ được quy ra điểm số cụ thể và là hệ số để đánh giá mức độ quan trọng của của từng quân: Thần – không tính điểm, Lạc – 6 điểm, Ngựa – 5 điểm, Voi – 4 điểm, Gà – 3 điểm, Bộ – 2 điểm, Đinh – 1 điểm.
• Cách tính điểm tại tất cả các giải cờ Đông Sơn như sau:
1- Đấu thủ thắng ván đấu sẽ có hai điểm (02 điểm);
2- Đấu thủ hòa ván đấu sẽ có một điểm (01 điểm);
3- Đấu thủ thua ván đấu hoặc vắng mặt sẽ có không điểm (00 điểm).
• Khi các đấu thủ có cùng điểm thì căn cứ vào thứ tự hệ số phụ:
1- Đ – Điểm: Tổng điểm nhiều hơn thì hạng cao hơn;
2- T – Thắng: Tổng trận thắng nhiều hơn thì hạng cao hơn;
3- H – Hoà: Tổng số trận hòa nhiều hơn thì hạng cao hơn;
4- Tc – Tiến Cung: Tổng điểm Sính lễ cao hơn thì hạng cao hơn;
5- Ch – Chiếu hạ: Tổng điểm Chiếu hạ cao hơn thì hạng cao hơn;
6 – St – Sơn thắng: Số ván thắng cờ cầm quân Sơn cao hơn thì hạng cao hơn;
7 – Sh – Sơn hoà: Số ván hòa cờ cầm quân Sơn cao hơn thì hạng cao hơn;
8 – S/Tr – Sơn/Tổng trận: Tổng số trận cầm quân Sơn cao hơn thì hạng cao hơn;
9 – Các đấu thủ có cùng hệ số phụ thì tiến hành bốc cờ bằng cách lật úp. Các quân Thần, Lạc, Ngựa, Voi, Gà, đấu thủ nào bốc được quân cao điểm hơn đấu thủ còn lại thì được xếp hạng cao hơn.
3.3 Bảng xếp hạng ví dụ mẫu:
3.4 Ván cờ hòa
• Điều lệ của một giải đấu có thể quy định rằng các đấu thủ không được phép đề nghị hoặc thỏa thuận hòa, cho dù dưới một số lượng nước đi nhất định hay cả ván đấu, mà không có sự cho phép của Trọng tài.
• Nếu điều lệ giải cho phép thỏa thuận hòa thì được xem xét như sau:
1 – Một đấu thủ đang đến lượt đi đưa ra lời khiếu nại đúng và đấu thủ muốn đề nghị hòa thì phải đề nghị trước khi thực hiện nước đi và bấm đồng hồ.
2 – Mỗi đấu thủ sẽ phải ghi lại để nghị hòa trong biên bản của mình với ký hiệu dấu bằng (=) trước khi bấm đồng hồ.
3 – Một bên đang vào thế bị Chiếu hạ, bị vây chặt không còn nước đi thì không được phép đề nghị hòa.
4 – Việc đề nghị hòa theo Điều 8.3.5 hoặc 8.3.6 được coi như một đề nghị hòa nhưng nếu đấu thủ đã chạm vào một quân theo Điều 6.3.7.1 thì sẽ mất quyền đề nghị hòa tại nước đó.
5 – Lời đề nghị không thể rút lại và vẫn còn hiệu lực cho đến khi đối phương chấp nhận hoặc nói từ chối, hoặc từ chối bằng cách chạm vào một quân với ý định đi quân hoặc bắt quân, hoặc ván cờ được kết thúc theo một số cách khác.
6 – Không có bất cứ điều kiện nào được kèm theo lời đề nghị hòa và một đề nghị hòa tại bất cứ thời điểm nào đều có giá trị nhưng phải được trọng tài xem xét.
7 – Một bên đề nghị hòa, bên đối phương đồng ý với điều kiện cả hai đấu thủ phải thực hiện ít nhất số nước đi theo quy định của điều lệ giải đấu (nếu không có quy định, mặc định 01 nước đi).
• Ván đấu sẽ được xử hòa nếu xuất hiện thế cờ lặp lại ít nhất 03 đến 05 lần (không nhất thiết phải lặp lại nước đi):
1 – Thế cờ hợp lệ được xem là lặp lại khi và chỉ khi chính đấu thủ đề nghị xử hòa đang đến lượt đi, các quân cờ cùng loại, cùng màu đều đứng ở vị trí cũ và khả năng di chuyển tất cả các quân của hai đấu thủ đều không thay đổi.
2 – Hoặc, thế cờ vừa xuất hiện và đấu thủ đề nghị hòa đang đến lượt đi.
3 – Hoặc, thế cờ sắp xuất hiện, nếu đấu thủ ghi trước nước đi vào biên bản, không được thay đổi, rồi thông báo Trọng tài ý định thực hiện nước đi của mình.
• Ván đấu sẽ được xử hòa nếu trong 50 nước đi liên tiếp không có nước di chuyển của quân Bộ, Đinh và không bên nào thực hiện nước ăn quân:
1 – Đấu thủ ghi trước nước đi vào biên bản, không được thay đổi và thông báo với Trọng tài ý định thực hiện nước đi thì có quyền đề nghị hòa.
2 – Trong tình huống trên bàn cờ có một bên chỉ còn lại quân Thần ván đấu ngay lập tức được xử hòa mà không cần đếm nước.
3 – Một trong hai đấu thủ có quyền đề nghị trọng tài xử hòa khi thế cờ đó xảy ra, dù cục thế ván cờ trên bàn cờ ra sao.
4. Biên bản thi đấu
4.1 Quy định của biên bản thi đấu
• Mỗi đấu thủ phải ghi lại từng nước đi của mình và đối phương bằng hệ thống ký hiệu đại số vào tờ “biên bản” quy định của giải đấu. Biên bản thi đấu phải để Trọng tài quan sát được trong suốt ván đấu;
• Biên bản chỉ được sử dụng để ghi lại các nước đi, thời gian trên đồng hồ, các đề nghị hòa, các vấn đề khiếu nại và những dữ liệu khác có liên quan;
• Đấu thủ muốn chép lại ván cờ thì ngay sau khi ký biên bản có thể mượn lại của trọng tài. Việc sao chép phải tiến hành ngay trong khu vực thi đấu. Sau khi sao chép xong phải đưa lại cho trọng tài để nộp cho ban tổ chức;
• Nếu một đấu thủ không thể tự ghi biên bản thì phải báo cáo trước cho ban tổ chức để xác nhận và có biện pháp giải quyết thích hợp.
4.2 Quá trình ghi biên bản
• Đấu thủ không được phép ghi trước nước đi, trừ khi kiến nghị hòa theo Luật 50 nước và Luật lặp lại thế cờ;
• Đấu thủ có thể thực hiện ngay nước đi đáp trả trước khi ghi biên bản nhưng phải ghi lại đầy đủ nước đi trước khi thực hiện nước đi tiếp theo;
• Trong trường hợp còn thời gian ít hơn 5 phút, đấu thủ được phép không ghi biên bản. Khi đó trọng tài giúp ghi biên bản cho đấu thủ tới khi ván đấu kết thúc. Khi ván đấu kết thúc, các đấu thủ phải ghi bổ sung các nước mình còn thiếu trong thời gian 5 phút đó để nộp đầy đủ biên bản cho trọng tài;
• Nếu ván đấu có kiểm tra thời gian, do phải đi rất nhanh không thể ghi kịp tại thời điểm diễn ra nước đi thì phải ghi bổ sung vào thời gian tiếp theo;
• Sau khi kết thúc ván đấu, biên bản phải được ghi hoàn chỉnh, mỗi đấu thủ tự ghi điểm số vào biên bản của mình rồi đưa cho trọng tài;
• Trước khi rời bàn thi đấu, các đấu thủ phải xếp quân cờ ngay ngắn ở vị trí ban đầu và bắt tay với đối phương. Chỉ khi ký xong biên bản và xếp lại bàn cờ, đấu thủ mới được rời khu vực thi đấu. Trọng tài phải nhanh chóng nộp biên bản cho ban tổ chức.
4.3 Cách ghi chép nước đi trên bàn cờ
• Cách viết đầy đủ hoặc khi có 2 quân cùng loại có thể di chuyển đến cùng một ô:
Ví dụ đi quân (Thuỷ): Tk2k8, Vb5d3, Ng9h7,
Ví dụ ăn quân (Sơn): Te5xa1, Vf7xh5, Nc7xb5,
• Cách viết rút gọn theo CỘT (chỉ áp dụng cho quân cờ di chuyển từ cột này qua cột khác):
Ví dụ đi quân (Thuỷ): Lae1, Vbd3, Ngh7, Ghf5
Ví dụ ăn quân (Sơn): Texa1, Lbxg9, Vfxh5, Ncxb5
• Cách viết rút gọn theo HÀNG (chỉ áp dụng cho quân cùng một cột di chuyển từ hàng này qua hàng khác):
Ví dụ đi quân (Thuỷ): Tk28
Ví dụ ăn quân (Sơn): Gb3x5
• Cách viết tắt (khi người chơi đạt trình độ nâng cao) khi chỉ có 01 quân cùng màu có thể di chuyển đến ô dự kiến và không thể bị trùng với quân cùng màu khác:
Ví dụ đi quân (Thuỷ): Tk8, Le1, Vd3, Nh7, Gf5
Ví dụ ăn quân (Sơn): Txa1, Lxg9, Vxh5, Nxb5, Gxb5
• Nước di chuyển của quân Bộ và Đinh được viết như sau:
Ví dụ di chuyển: Đb4, Bc7;
Ví dụ ăn quân: Đxd5, Bxh4;
Ví dụ Phong cấp: Đf1V, Bxg9N.
4.4 Ghi chép biên bản khi kết thúc một ván cờ:
• Các đấu thủ phải ghi lại kết quả của hệ số phụ trong ngoặc đơn “()”. Bên Thủy ghi điểm bên trái, bên Sơn ghi bên phải.
• Kết quả trong ngoặc gồm: điểm cho người thắng (cùng điểm Hệ số phụ viết nhỏ phía trên bên phải) hoặc hòa, điểm “0” (không) cho người thua cuộc giữa 2 điểm có dấu gạch nối.
• Trừ trường hợp hòa cờ (1-1) thì không tồn tại ván đấu mà cả hai đấu thủ đều có điểm, luôn có một bên điểm số bằng “0”.
4.5 Ghi chép kết quả ván cờ ở cuối biên bản theo hệ số phụ như sau
• Cả 2 đấu thủ đều bị xử thua: (0-0);
• Hòa cờ: (1-1);
• Quân Thủy được xử thắng: (2⁰-0);
Quân Sơn được xử thắng: (0-2⁰);
• Quân Thủy Chiếu hạ Sơn Thần: (2¹-0);
Quân Sơn Chiếu hạ Thủy Thần: (0-2¹);
• Kỳ thủ được miễn đấu 01 vòng trong bảng: (2²-0);
Quân Thủy thắng vì đối thủ hết giờ: (2²-0);
Quân Sơn thắng vì đối thủ hết giờ: (0-2²);
• Quân Thủy Thần Tiến Cung với quân Gà: (2³-0);
Quân Sơn Thần Tiến Cung với quân Gà: (0-2³);
• Quân Thủy Thần Tiến Cung với quân Voi: (2⁴-0);
Quân Sơn Thần Tiến Cung với quân Voi: (0-2⁴);
• Quân Thủy Thần Tiến Cung với quân Ngựa: (2⁵-0);
Quân Sơn Thân Tiến Cung với quân Ngựa: (0-2⁵);
• Trường hợp có hơn một quân Sính lễ tiến Cung cùng Thần thì sẽ tính điểm quân có giá trị cao nhất;
• Nếu một đấu thủ bỏ cuộc giữa ván đấu hoặc giữa cuộc thi, thì dù đấu thủ đã đấu được quá nửa hay chưa đều giữ nguyên kết quả đã chơi. Người gặp đấu thủ vào ván đó sẽ được xử thắng (2²-0). Sau khi xác nhận rời Giải đấu, kỳ thủ không thể quay lại đấu thêm bất kỳ ván nào.
5. Trọng tài bàn
• Trọng tài bàn là người trực tiếp điều hành công tác thi đấu và xử lý mọi tình huống xảy ra, là người đảm bảo cho luật lệ được tôn trọng và giải đấu thành công. Trọng tài bàn phải có các điều kiện cơ bản:
1 – Biết chơi cờ và nắm vững, phải được đào tạo về công tác trọng tài, được tập huấn về luật cờ.
2 – Có đạo đức, tác phong, tư cách tốt, khách quan, trung thực và công bằng khi thi hành nhiệm vụ. Phải lắng nghe thấu đáo mọi ý kiến của đấu thủ, nói năng ôn tồn, lịch sự, nhã nhặn và giải quyết mọi vấn để phát sinh theo đúng luật.
• Trọng tài bàn được quyền
1 – Tùy mức độ vi phạm, trọng tài xử lý theo các mức: nhắc nhở, ghi lỗi kỹ thuật và lỗi tác phong, xử thua ván cờ (trọng tài quyết định điểm số ván đấu cho đối phương). Nếu nghiêm trọng hơn thì phải báo cáo với tổng trọng tài để xử lý ở mức nặng hơn.
2 – Cộng thời gian cho đối phương, trừ thời gian của đấu thủ vi phạm luật.
3 – Có thể chỉ định các trợ lý quan sát các ván đấu.
4 – Có quyền nhắc nhở và trục xuất người vi phạm ra khỏi nơi thi đấu.
• Khi đấu thủ phạm lỗi kỹ thuật, trọng tài phải tuyên bố lý do và cảnh báo mức phạt cho đấu thủ đó biết. Các trường hợp Trọng tài được xét đấu thủ phạm lỗi kỹ thuật (liên quan đến di chuyển quân cờ) thường gặp gồm:
1 – Đi quân sai luật định hoặc đi quân thành nước cho đối phương bắt Thần.
2 – Để 2 quân Thần đối mặt nhau do vô ý hay cố ý.
3 – Chạm quân mà không đi được quân nào.
4 – Ghi biên bản sót 04 nước liên tục/không ghi bổ sung các nước còn thiếu.
5 – Vi phạm các quy định khác về mặt kỹ thuật.
• Khi đấu thủ phạm lỗi tác phong, trọng tài phải tuyên bố lý do và cảnh báo mức phạt cho đấu thủ đó biết. Các trường hợp Trọng tài được xét đấu thủ phạm lỗi tác phong (không liên quan đến di chuyển quân cờ) thường gặp gồm:
1 – Hành động gây ồn ào hoặc làm các động tác gây ảnh hưởng đến tinh thần và sự tập trung hoặc gây mất bình tĩnh cho đối phương như: hát, huýt sáo, gõ tay lên mặt bàn, rung đùi, vỗ tay, nói chuyện riêng, phân tích ván cờ khác,…
2 – Nêu ý kiến hay vấn đề khi đang đến lượt đối phương đi. Các khiếu nại hoặc đề nghị hòa vô lý, đề nghị hòa cờ liên tục.
3 – Làm việc riêng, hút thuốc. Sử dụng sách báo, tài liệu, công cụ tham khảo để phân tích ván cờ. Sử dụng sổ ghi chép, các nguồn thông tin, lời khuyên ngoài bàn cờ.
4 – Chạm tay vào bàn cờ khi chưa đến lượt; đập mạnh quân cờ hoặc đập mạnh vào đồng hồ; làm cử chỉ khiêu khích, bất lịch sự với đối thủ.
5 – Sử dụng thiết bị điện tử tại khu vực thi đấu mà không có sự cho phép của Trọng tài. Tuy nhiên, điều lệ của một giải đấu có thể cho phép các thiết bị đó được lưu trữ trong túi riêng của đấu thủ, miễn là thiết bị đã được tắt hoàn toàn.
6 – Nếu đang thi đấu có vấn đề tranh chấp thì hai đấu thủ không được to tiếng với nhau mà phải bình tĩnh trình bày rõ sự việc để trọng tài nghe và quyết định. Không được có lời nói, hành vi không tôn trọng trọng tài, đối thủ, khán giả, phản ứng không đúng mực đối với sự phán quyết của trọng tài, ban tổ chức. Không được cãi cọ, làm ồn, làm mất trật tự trong khi thi đấu,…
7 – Nếu hai đấu thủ cùng phạm lỗi nặng thì có thể xử thua cờ cả hai.
Lời kết
Hệ thống Luật thi đấu Cờ Đông Sơn là tâm huyết được đúc kết từ quá trình quan sát thực tiễn trải nghiệm của người chơi, đồng thời học hỏi có chọn lọc từ tinh hoa của Luật Cờ Vua quốc tế (FIDE) và truyền thống Cờ Tướng trong văn hóa thể thao Việt Nam.
Vì bộ môn vẫn đang trong hành trình thử nghiệm và liên tục hoàn thiện, những thiếu sót hay bất cập phát sinh trong quá trình vận hành là điều khó tránh khỏi. Ban tổ chức rất mong nhận được sự cảm thông và lượng thứ từ quý phụ huynh cùng toàn thể các kỳ thủ. Mọi ý kiến đóng góp chân thành của quý vị không chỉ giúp khắc phục điểm yếu và nâng cao chất lượng giải đấu, mà còn là mảnh ghép quan trọng nhất để chúng ta cùng nhau xây dựng Cờ Đông Sơn trở thành một di sản thể thao trí tuệ đáng tự hào của người Việt.
Dưới đây là những trạm dừng chân tiếp theo để bạn có thể tham gia luyện tập và sinh hoạt Cờ Đông Sơn hàng tuần. Hãy theo dõi fanpage để cập nhật sớm nhé Fanpage Cờ Đông Sơn: để cập nhật sớm nhất thời gian sinh hoạt của từng địa điểm nhé!
📍 Địa điểm 1: Thư viện Khoa học Tổng Hợp TPHCM: 69 Lý Tự Trọng, P. Bến Thành, TPHCM
📍 Địa điểm 2: CLB Lam Sơn: 242 Trần Bình Trọng, P. Chợ Quán (Q.5 cũ), TP.HCM.
📍 Địa điểm 3: CLB Phú Nhuận: 9/4 Đặng Văn Ngữ, P.Phú Nhuận, TP.HCM
📍 Địa điểm 4: Đường Sách TP. Thủ Đức - Nhà Sách Thái Hà: 99 Hồ Thị Tư, P.Tăng Nhơn Phú, TP.HCM
BẤM VÀO ĐÂY ĐỂ XEM THÊM
- LUẬT CHƠI CỜ ĐÔNG SƠN
- Mã định danh CODS-ID là gì?
- Hướng dẫn tích luỹ điểm rèn luyện CLB Cờ Đông Sơn.
- Bảng xếp hạng CLB và lịch sử các ván đấu CLB.
- Tổng hợp bài tập khoá cờ ĐÔNG SƠN TIÊN PHONG.
- Elo Cờ Đông Sơn là gì?
- Cách thức hoạt động của Bảng xếp hạng theo giải đấu.
- Bảng xếp hạng Elo cờ Đông Sơn qua các giải đấu.
